BÁO CÁO NHIỆM VỤ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN, PHÂN BỐ CÁC LOÀI THỰC VẬT CÓ GIÁ TRỊ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG VÙNG NÚI ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

TÍNH CẤP THIẾT VÀ CĂN CỨ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
Vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình nằm trong miền karst Tây Bắc, đó là dải karst gần như liên tục từ biên giới Việt – Trung ở vùng Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa, qua Sơn La, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình đến bờ biển vịnh Bắc Bộ, với chiều dài trên 400km, chiều rộng trung bình 20km. Đó là khu vực karst có sự phân hóa khá đa dạng
và điển hình với các cảnh quan khối núi karst phân cắt yếu (khu vực Cúc Phương), cảnh quan karst bị phân cắt mạnh với các khối sót (khu vực Trường An – Bích Động) và cảnh quan thung lũng, đáy trũng và đồng bằng karst (Trương Quang Hải và cộng sự, 2008; Đỗ Tuyết và cộng sự, 2004). Các cảnh quan karst này được hình thành chủ yếu trên đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao tuổi Triat giữa (T2đg).
Nằm trong tọa độ 19050’ đến 20027’vĩ độ Bắc và 105032’đến 106033’kinh độ Đông, vùng núi đá vôi Ninh Bình phân hóa thành 6 tiểu vùng cảnh quan, bao gồm: 1) Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ Yên Mô – Ninh Bình; 2) Tiểu vùng cảnh quan karst Trường Yên; 3) Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ sông – biển Holocen sớm
Gia Viễn; 4) Tiểu vùng cảnh quan ngập nước Vân Long; 5) Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ sông – biển Pleixtocen Nho Quan – Gia Viễn và 6) Tiểu vùng cảnh quan karst Tam Điệp (Trương Quang Hải, 2007). Với sự đa dạng về địa hình và cảnh quan dẫn đến sự đa dạng các loài sinh vật, trong đó điển hình là hệ thực vật vùng núi đá vôi thuộc khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương và Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long là nơi chứa đựng các hệ sinh thái nhiệt đới có độ đa dạng sinh học cao và nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm và đặc hữu. Cúc Phương là Vườn Quốc gia đầu tiên của cả nước với diện tích 22.200 ha. Cúc Phương còn lưu giữ một hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi độc đáo và giàu tính đa dạng sinh học vào bậc nhất Việt Nam. Với hệ thực vật
rừng mưa nhiệt đới điển hình, Cúc Phương có 19 quần xã thực vật, trên 2.000 loài thực vật bậc cao được phân bố trong 231 họ, 931 chi, trong đó có 118 loài quý hiếm, 11 loài đặc hữu, 433 loài thực vật, 229 loài cây ăn được, 240 loài có thể dùng làm thuốc nhuộm, 137 loài cho tanin (Trái Văn Trừng, 1997; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997). Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long là khu đất rừng ngập nước ngọt hoang sơ lớn nhất còn
sót lại ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Vân Long chịu ảnh hưởng của 3 con sông lớn chảy qua lãnh thổ Ninh Bình: sông Đáy, sông Hoàng Long và sông Bôi. Đất ngập nước với mức nước sâu khoảng vài mét, đan xen là các dãy núi đá vôi nổi lên cao sàn sàn dưới 300m, cao nhất là đỉnh Ba Chon (428m). Rừng Vân Long có 606 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi, 127 họ. Đặc biệt có 07 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam là Sưa (Dalbergia tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Tuế (Cycas spp.), Cốt toái bổ (Drynaria spp.), Rau sắng (Melientha suavis), Mã tiền (Strychnos spp.), Bò cạp núi (Tournefortia spp.) (Nguyễn Hữu Tứ và cộng sự, 1998; Vũ Trung Tạng, 2003; Nguyễn Nghĩa Thìn, 2011).
Như vậy, có thể nói rừng ở vùng núi đá vôi của tỉnh Nình Bình có sự đa dạng và phong phú của thực vật, trong đó có rất nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm và đặc hữu. Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tỉnh Ninh Bình có một số đặc điểm đặc trưng như sau:
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong kinh tế, môi trường và nghiên cứu khoa học của tỉnh Ninh Bình. Tài nguyên rừng của các khu rừng đặc dụng trên núi đá vôi (VQG Cúc Phương, Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long và Khu rừng văn hóa – lịch sử – môi trường Hoa Lư) vốn rất phong phú và đa dạng nhưng ngày càng bị xâm hại, diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều thực vật quý suy giảm về số lượng. Thảm thực vật rừng trên núi đá vôi bị suy giảm sẽ dẫn
đến sự thay đổi tiểu khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của cộng đồng các dân tộc sống trong và quanh vùng núi đá. - Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tỉnh Ninh Bình là một hệ sinh thái đặc biệt rất nhạy cảm, có lịch sử địa chất lâu dài, được hình thành trên nền đất đặc biệt là đá vôi, điều kiện thuỷ văn thường là khô hạn, vì vậy nếu bị phá huỷ thì rất khó có thể khôi phục. Ở các vùng núi đá vôi có khu hệ sinh vật đặc thù, mang tính chỉ thị, đó là những nhóm loài ưa sống trong điều kiện khắc nghiệt
- Sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh trưởng của chúng rất chậm chạp, các loài thực vật thân gỗ trên núi đá vôi có khi phải mất hàng nghìn năm mới trở thành các cây cổ thụ, việc khôi phục hệ sinh thái rừng nói chung và các loài thực vật nói riêng ở vùng núi đá vôi là hết sức khó khăn. Với những phân tích trên đây về vai trò to lớn và những đặc trưng của hệ thực vật vùng núi đá vôi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình cho chúng ta thấy rằng cần phải sớm có những hành động tích cực bảo vệ và phát triển rừng ở những khu vực này. Từ yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ: “Điều tra thành phần, phân bố các loài thực vật có giá trị và đề xuất các giải pháp bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững rừng vùng núi đá vôi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”.
Xem chi tiết báo cáo nhiệm vụ trong tài liệu sau: Link tài liệu



