Hoạt động bảo tồnTin tức

BÁO CÁO KẾT QUẢ QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÂN LONG

PHẦN I: MỞ ĐẤU

1.1. Tính cấp thiết

Quan trắc đa dạng sinh học (ĐDSH) đã được tiếp cận và thực hiện tại nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây, quan trắc ĐDSH cũng đã được tập trung nghiên cứu nhưng chủ yếu ở quy mô nhỏ và đặc biệt chưa xây dựng một bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH cho các khu bảo tồn (KBT) – các trung tâm bảo tồn ĐDSH của quốc gia. Do đó việc đề xuất danh mục các chỉ thị quan trắc ĐDSH và triển khai thí điểm tại một KBT là một trong những yêu cầu quan trọng trước khi chính chính thức áp dụng cho các KBT cùng loại hình, đặc điểm tự nhiên.

Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long được thành lập theo Quyết định số 2888/QĐ-UB, ngày 18/12/2001 của UBND tỉnh Ninh Bình. Đây là KBT đất ngập nước lớn nhất vùng đồng bằng Bắc bộ, có tổng diện tích khoảng 2.643 ha (trong đó 3/4 diện tích là núi, còn lại là diện tích đất ngập nước), thuộc địa giới hành chính 07 xã vùng núi huyện Gia Viễn (Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Tân, Gia Vân, Gia Lập, Gia Thanh). Khu bảo tồn Vân Long đã được Ban thư ký Công ước Ramsar trao bằng công nhận là khu Ramsar số 2360 của thế giới và là khu Ramsar thứ 9 của Việt Nam (Báo điện tử tỉnh Ninh Bình, 2019: https://baoninhbinh.org.vn). Khu bảo tồn Vân Long có sự kết hợp địa hình giữa núi đá vôi và đất ngập nước nên có nguồn tài nguyên ĐDSH khá phong phú. Theo kết quả kiểm kê của dự án này, tại KBT Vân Long đã ghi nhận 1253 loài thực vật bậc cao có mạch, 40 loài thú, 158 loài chim, 31 loài bò sát, 20 loài lưỡng cư, 42 loài cá, 29 loài động vật nổi, 34 loài động vật đáy không xương sống cỡ lớn. Trong số các loài động thực vật tại KBT Vân Long có nhiều loài động vật quý hiếm như: Cu li lớn (Nycticebus bengalensis), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Rái cá thường (Lutra lutra), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), Trăn đất (Python molurus).v.v..(Báo cáo kết quả kiểm kê đa dạng sinh học Khu bảo tồn Vân Long, 2021).

Với đặc điểm tự nhiên điển hình cho kiểu hệ sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam nên việc triển khai thí điểm quan trắc ĐDSH tại KBT Vân Long là rất phù hợp để có thể đánh giá được tính hợp lý của bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH. Thông qua quan trắc ĐDSH tại KBT Vân Long sẽ giúp Ban quản lý KBT đánh giá được chất lượng nguồn tài nguyên của khu vực theo thời gian; cập nhật tình trạng của các loài sinh vật, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm; trên cơ sở đó triển khai các giải pháp bảo tồn phù hợp và hiệu quả.

1.2. Căn cứ pháp lý, khoa học, thực tiễn
1.2.1. Căn cứ pháp lý

  • Luật Lâm nghiệp được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 15/11/2017;
  • Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 17/11/2020;
  • Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH của Quốc hội về hợp nhất Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 và Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 của Quốc hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật 37 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019
  • Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp. – Nghị định số: 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Thủ tướng chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp. – Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ quy định về sửa đổi Điều 7, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ để xác định hiện trạng các loài và lựa chọn loài quý hiếm. – Nghị định số 65/2020/NĐ-CP ngày 11/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học. – Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. – Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng. – Thông tư 35/2018/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ TN&MT Quy định tiêu chí xác định và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại.
  • Thông tư 23/2010/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ TN&MT Quy định điều tra khảo sát, đánh giá hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển và đất ngập nước vùng ven biển và hải đảo. – Quyết định số 552/QĐ-TCMT ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường về việc phê duyệt điều chỉnh nội dung, dự toán và kế hoạch lựa chọn nhà thầu năm 2021 Dự án “Điều tra, khảo sát và xây dựng Đề án kiểm kê, xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học”;
  • Quyết định số 641/QĐ-TCMT ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường về việc phê duyệt điều chỉnh dự toán kinh phí thực hiện năm 2021 của dự án “Điều tra, khảo sát và xây dựng Đề án kiểm kê, xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học”;
  • Quyết định số 71/QĐ-BTĐD ngày 19 tháng 7 năm 2021 của Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học về việc phê duyệt danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật

1.2.2. Căn cứ khoa học
Quan trắc ĐDSH được thực hiện dựa trên hệ thống các chỉ thị qua trắc đại diện cho tính ĐDSH, đồng thời phản ánh rõ nét xu hướng biến đổi của ĐDSH theo thời gian. Trên cơ sở đó, chương trình quan trắc ĐDSH tại Khu BTTN Vân Long được xây dựng dựa trên hệ thống các chỉ thị quan trắc chung của KBT, phù hợp với điều kiện tự nhiên, tính ĐDSH của khu vực. Phương pháp quan trắc các chỉ thị này được dựa trên nguyên tắc tham khảo những kinh nghiệm của quốc tế và của Việt Nam và đã được áp dụng tại thực tiễn tại thời gian qua thông qua các chương trình điều tra, đánh giá ĐDSH ở các cấp độ khác nhau.

1.3.3. Căn cứ thực tiễn
Chương trình quan trắc ĐDSH tại Khu BTTN Vân Long được thực hiện dựa trên những cơ sở thực tiễn:

  • Quan trắc đa dạng là phương pháp đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới và hỗ trỡ rất tốt cho công tác bảo tồn ĐDSH của các KBT cũng như công tác quản lý nhà nước về ĐDSH.
  • Quan trắc ĐDSH thể hiện xu hướng biến đổi của ĐDSH tại một khu vực nhất định, do đó kết quả quan trắc theo chu kỳ là cơ sở quan trọng phục vụ công tác bảo tồn của các KBT.
  • Trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của các KBT ngày càng được nâng cao, đủ khả năng tiếp cận những phương pháp điều tra, quan trắc ĐDSH cho chính
    địa bàn mình quản lý.

PHẦN II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP QUAN TRẮC

2.1. Mục tiêu

  • Xác định được những áp lực, tác động chủ yếu và các giải pháp ứng phó với những tác động đó tại KBT Vân Long;
  • Đánh giá được xu thế diễn biến của ĐDSH tại KBT Vân Long theo cả thời gian và không gian, đồng thời cảnh báo hoặc dự đoán sớm các hiện tượng suy thoái ĐDSH đã và sẽ xảy ra;
  • Đưa ra và đánh giá được các nguyên nhân của xu thế diễn biến ĐDSH và đề xuất các biện pháp can thiệp kịp thời.

2.2. Nội dung và chỉ thị quan trắc
Bộ chỉ thị qua trắc ĐDSH tại KBT Vân Long gồm 45 chỉ thị thuộc 3 nhóm (bảng 2.1): nhóm chỉ thị hiện trạng (6 chỉ thị), nhóm chỉ thị áp lực (15 chỉ thị), nhóm chỉ thị đáp ứng (24 chỉ thị).

Bảng 2.1: Bộ chỉ thị quan trắc đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Vân Long – xem chi tiết ở trang 4 trong tài liệu sau: Link tài liệu

2.3. Đối tượng và phạm vi quan trắc
2.3.1. Đối tượng quan trắc
Đối tượng quan trắc bao gồm các đối tượng theo các chỉ tiêu thuộc nhóm chỉ thị hiện trạng, áp lực và đáp ứng (bảng 2.1).
2.3.2. Phạm vi quan trắc
Toàn bộ diện tích rừng, đất rừng và khu vực đất ngập nước trên địa bàn 7 xã: Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Tân, Gia Vân, Gia Lập, Gia Thanh. Tuy nhiên, diện tích rừng tại xã Liên Sơn, Gia Tân và Gia Lập nhỏ nên đợt quan trắc này tập trung các tuyến, điểm điều tra tại 4 xã: Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hưng và Gia Thanh.
2.4. Phương pháp quan trắc
2.4.1. Thiết kế các tuyến/điểm/mặt cắt quan trắc
Các tuyến/điểm/mặt cắt quan trắc Đ DSH được thiết kế theo nguyên tắc: Đủ để bao quát các kiểu rừng, sinh cảnh đại diện cho Hệ sinh thái rừng; – Đủ để bao quát các kiểu đất ngập nước đặc thù quan trọng (hồ, đầm, sông, suối) cho Hệ sinh thái đất ngập nước.
Đối với nhóm thực vật: Đợt quan trắc này thực hiện 13 tuyến quan trắc với tổng số 28,925km và 10 ô tiêu chuẩn (OTC) trải đều trên các xã có diện tích rừng và hệ sinh thái điển hình của KBT Vân Long, chi tiết được thể hiện qua bảng 2.2.
Đối với nhóm thú: Đợt quan trắc này thực hiện 12 tuyến quan trắc với tổng số 49,77km và 25 điểm quan trắc tập trung chủ yếu tại 4 xã có diện tích rừng lớn và hệ sinh thái điển hình của KBT Vân Long: Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hưng và Gia Thanh. Thông tin chi tiết về các tuyến/điểm quan trắc thú như bảng 2.3 và bảng 2.4
Đối với nhóm chim: Đợt quan trắc này thực hiện 11 tuyến quan trắc với tổng số 48,09km và 31 điểm quan trắc tập trung chủ yếu tại 4 xã có diện tích rừng lớn và hệ sinh thái điển hình của KBT Vân Long: Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hưng và Gia Thanh. Thông tin chi tiết về các tuyến/điểm quan trắc chim như bảng 2.5 và bảng 2.6.
Đối với nhóm bò sát: Đợt quan trắc này thực hiện 12 tuyến quan trắc với tổng số 46,2km và 31 điểm quan trắc tập trung chủ yếu tại 4 xã có diện tích rừng lớn và hệ sinh thái điển hình của KBT Vân Long: Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hưng và Gia Thanh. Thông tin chi tiết về các tuyến/điểm quan trắc bò sát như bảng 2.7 và bảng 2.8.

Xem chi tiết các bảng ở trang 10-19 trong tài liệu sau: Link tài liệu

Bảng 2.2: Thông tin về các tuyến quan trắc thực vật tại KBT Vân Long

Bảng 2.3: Thông tin về các tuyến quan trắc thú tại KBT Vân Long

Bảng 2.4: Thông tin về các điểm quan trắc thú tại KBT Vân Long

Bảng 2.5: Thông tin về các tuyến quan trắc chim tại KBT Vân Long

Bảng 2.6: Thông tin về các điểm quan trắc chim tại KBT Vân Long

Bảng 2.7: Thông tin về các tuyến quan trắc bò sát tại KBT Vân Long

Bảng 2.8: Thông tin về các điểm quan trắc bò sát tại KBT Vân Long

2.4.2. Thời gian và tần suất quan trắc
Thời gian quan trắc được thực hiện vào 2 mùa trong năm (mùa mưa và mùa khô) và tần suất quan trắc là hàng năm (01 lần/năm).
Do tình hình dịch bệnh covid 19 năm 2021 diễn biến phức tạp và phải tuân thủ theo quy định giãn cách xã hội nên thời gian quan trắc ĐDSH tại KBT Vân Long trong chương trình này được thực hiện 2 lần (2 đợt) như sau: –

  • Lần 1 (Đợt 1): Đợt quan trắc này thực hiện quan trắc áp dụng cho 22 chỉ tiêu đề ra cho 3 nhóm chỉ tiêu (Hiện trạng, Áp lực và Đáp ứng). Do dịch covid nên chỉ thực hiện quan trắc trong thời gian ngắn vào mùa mưa.
  • Lần 2 (Đợt 2): thực hiện sau khi đợt 1 kết thúc đến tháng 12/2021. Đợt quan trắc này áp dụng cho chỉ thị Tần suất và địa điểm bắt gặp/xuất hiện của các loài động vật (S5) thuộc nhóm chỉ thị Hiện trạng.

2.4.3. Phương pháp quan trắc đa dạng sinh học
Phương pháp quan trắc ĐDSH tại KBT Vân Long được xây dựng cho từng chỉ tiêu quan trắc, cụ thể như bảng 2.9.

Bảng 2.9: Phương pháp quan trắc đa dạng sinh học tại KBTTN Vân Long – trang 20 trong tài liệu sau: Link tài liệu

2.4.4. Phương pháp xử lý dữ liệu, đánh giá, lập báo cáo quan trắc

Số liệu quan trắc được xử lý và tổng hợp từ các nhóm thực hiện quan trắc, phiếu ghi kết quả quan trắc. Sau khi tổng hợp, số liệu được kiểm tra để phát hiện các vấn đề (nếu có) như tính hợp lý của số liệu.

Kết quả quan trắc được so sánh với kết quả quan trắc theo từng chỉ thị ở lần quan trắc trước (nếu đã quan trắc) hoặc các số liệu có liên quan ở thời điểm gần nhất để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ thị (tăng hay giảm). Trên cơ sở đó, tính ĐDSH tại KBT Vân Long được giải thích các nguyên nhân cho xu hướng
biến động đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện.

PHẦN IV: KẾT QUẢ QUAN TRẮC

Xem chi tiết trong tài liệu sau: Link tài liệu

PHẦN V: KẾT LUẬN
Hoạt động quan trắc ĐDSH thí điểm tại KBT Vân Long được thực hiện trong 2 đợt (đợt 1 – mùa mưa và đợt 2 – mùa khô) áp dụng cho 8 nhóm loài: thực vật, thú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá, động vật nổi, động vật đáy không xương sống cỡ lớn. Các thông tin chung của KBT được thu thập theo 45 chỉ tiêu quan trắc ĐDSH (6 chỉ thị nhóm hiện trạng, 15 chỉ thị nhóm áp lực, 24 chỉ thị nhóm đáp ứng). Các kết quả chính của hoạt động quan trắc như sau: – Kết quả quan trắc theo các nhóm chỉ thị: 6 chỉ thị nhóm hiện trạng đã được thu thập đầy đủ dữ liệu. Trong 15 chỉ thị nhóm áp lực đã thu thập đầy đủ thông tin của 10 chỉ thị, 4 chỉ thị không xác định và 1 chỉ thị không áp dụng do không có rạn san hô. Trong 24 chỉ thị nhóm đáp ứng đã thu thập đầy đủ thông tin của 19 chỉ thị và 5 chỉ thị không xác định do không có ghi chép ở KBT Vân Long.

  • Kết quả quan trắc thực vật: đã xác định được 1253 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 176 họ, 621 chi của 6 ngành thực vật: ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), ngành Hạt trần (Pinophyta), ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Mộc tặc (Equisetophyta), ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Quyết lá thông
    (Psilotophyta). Đối với các loài thực vật thuộc nhóm chỉ thị các loài cây quý hiếm cũng đã quan trắc và xác định được 143 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ thế giới (IUCN), Nghị định 84/2021/NĐ-CP thuộc các mức nguy cấp khác nhau và cần được bảo vệ.
  • Kết quả quan trắc thú: đã ghi nhận được 40 loài, 19 họ, 8 bộ thú tại KBT Vân Long; trong đó có 8 loài thú được ghi nhận ngoài thực địa và chủ yếu trên các
    tuyến điều tra. Việc quan sát thú ngoài thực địa là công việc không hề dễ dàng trong quá trình điều tra tuyến, điều tra điểm, đặc biệt là các loài thú lớn, quý hiếm. Một số loài thú được quan sát nhiều lần như Sóc bụng đỏ (Callosciurus erythraeus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) và một số loài chuột. – Kết quả quan trắc chim: đã ghi nhận được 158 loài, 55 họ, 16 bộ chim tại KBT Vân Long. Tổng số loài được ghi nhận ngoài thực địa là 84 loài với 1630 cá thể, trong đó 910 cá thể trên tuyến, 718 cá thể trên các điểm điều tra và đặc biệt có 2 cá thể Gà rừng được ghi nhận bằng bẫy ảnh. Khả năng bắt gặp các loài chim nước dễ dàng hơn so với các nhóm chim khác vì chúng thường xuất hiện ở nơi trống trải và đi theo đàn. Trữ lượng chim nước cũng lớn hơn so với các nhóm chim khác tại KBT Vân Long nên tần suất bắt gặp trên các tuyến, điểm quan trắc khá lớn. Theo thông tin từ Ban quản lý KBT và người dân địa phương, các loài chim nước thường
    xuất hiện nhiều ở đầm nước Vân Long vào mùa khô do chúng di cư từ nhiều vùng miền với số lượng của một số loài như Mồng két, Cò trắng, Cò bợ lên đến hàng vạn cá thể.
  • Kết quả quan trắc bò sát: đã ghi nhận được 31 loài, 12 họ, 2 bộ bò sát tại KBT Vân Long; trong đó có 9 loài được ghi nhận ngoài thực địa. Các loài bò sát được ghi nhận từ đợt quan trắc không đáng kể cả về số loài, số lượng cá thể và chủ yếu trên các tuyến điều tra. Đợt quan trắc này thực hiện phần lớn vào mùa khô khi
    mà nhiệt độ môi trường thấp (17 – 24 độ C) nên đã ảnh hưởng đến khả năng bắt gặp bò sát trên các tuyến, điểm quan trắc. Các loài bò sát được ghi nhận ngoài thực địa có vùng phân bố rộng trong cả nước và còn số lượng nhiều ngoài thiên nhiênnhư Rắn nước (Xenochrophis flavipunctatus), Rắn bồng chì (Enhydris plumbea), Thằn lằn bóng hoa (Eutropis multifasciata), Thằn lằn bóng đuôi dài (Eutropis longicaudata), Ô rô vẩy (Acanthosaura lepidogaster). Các loài bò sát nguy cấp, quý hiếm không được ghi nhận trong đợt quan trắc một phần do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và một phần có thể kích thước quần thể của chúng hiếm ở KBT Vân Long. – Kết quả quan trắc lưỡng cư: đã ghi nhận được 20 loài lưỡng cư thuộc 6 họvà 1 bộ; trong đó có 13 loài được ghi nhận ngoài thực địa. Các loài lưỡng cư được ghi nhận từ đợt quan trắc không đáng kể cả về số loài, số lượng cá thể, và chủ yếu trên các tuyến điều tra.
  • Kết quả quan trắc cá: đã ghi nhận được 42 loài cá thuộc 33 giống, 22 họ và 8 bộ; trong đó có 221 mẫu được thu thập. Các loài cá được đánh giá tần suất bắt gặp, mật độ trên tuyến và trên các điểm điều tra.
  • Kết quả quan trắc động vật nổi: đã xác định 29 loài và nhóm loài động vật nổi tại các thuỷ vực trong KBT đất ngập nước Vân Long. Mật độ động vật nổi các điểm quan trắc thuộc khu vực KBT Vân Long dao động từ 3.130 – 8.922 con/m3. Trung bình ở mức 6.400 con/m3. Trong thành phần động vật nổi, chiếm ưu thế về
    mật độ là nhóm giáp xác chân chèo (Copepoda) và nhóm giáp xác râu ngành (Cladocera).
  • Kết quả quan trắc động vật đáy không xương sống cỡ lớn: đã ghi nhận được 20 loài có mặt trong quá trình quan trắc. Nhóm thân mềm chiếm ưu thế với số lượng là 15 loài, nhóm giáp xác là 5 loài.
    Mặc dù thời gian quan trắc chủ yếu được thực hiện tại KBT Vân Long vào mùa khô, khi mà nhiệt độ môi trường thấp đã ảnh hưởng đến khả năng bắt gặp động vật ngoài thực địa, nhất là các nhóm động vật biến nhiệt (bò sát, lưỡng cư, cá). Tuy nhiên, với dữ liệu thu thập tin cậy từ các nguồn thông tin khác nhau có ý nghĩa quan trọng cho các đợt quan trắc thực hiện trong các năm tiếp theo.
Xem thêm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button